Nghị định 126 /2020/NĐ-CP (NĐ 126) quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế, có hiệu lực thi hành từ ngày 5/12/2020.
NĐ 126 gồm 9 chương, 44 điều quy định về các nội dung khai thuế, tính thuế; ấn định thuế; thời hạn nộp thuế, trách nhiệm hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế; hoàn thuế, khoanh tiền thuế nợ, xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt; trách nhiệm cung cấp thông tin, công khai thông tin người nộp thuế và trách nhiệm của ngân hàng thương mại; cưỡng chế thi hành quyết định hành chính trong lĩnh vực thuế.
Vậy Nghị định 126 năm 2020 có gì mới?
Nộp hồ sơ khai thuế
Một trong những nội dung của NĐ 126 được nhiều tổ chức, cá nhân quan tâm là quy định về quản lý thuế đối với người nộp thuế trong thời hạn tạm ngừng hoạt động, hoặc tiếp tục kinh doanh trước thời hạn. Theo đó, người nộp thuế không phải nộp hồ sơ khai thuế, trừ trường hợp tạm ngừng hoạt động, kinh doanh không trọn tháng, quý, năm dương lịch, hoặc năm tài chính.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán sẽ được cơ quan thuế xác định lại nghĩa vụ thuế tương ứng với thời gian tạm ngừng hoạt động kinh doanh. Trong thời gian ngừng, nghỉ hoạt động, người nộp thuế không được sử dụng hóa đơn.
Nếu kinh doanh trở lại đúng thời hạn đã đăng ký, thì không phải thông báo, nhưng hoạt động trở lại trước thời hạn thì phải thông báo với cơ quan quản lý nơi đã đăng ký tạm ngừng hoạt động, kinh doanh, đồng thời thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về thuế.
Tạm hoãn xuất cảnh khi chưa hoàn thành nộp thuế
Đối với việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế trong trường hợp xuất cảnh, nghị định quy định các trường hợp tạm hoãn xuất cảnh khi chưa hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế đối với cá nhân, cá nhân là người đại diện theo pháp luật của người nộp thuế là DN đang bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế; người Việt Nam xuất cảnh để định cư ở nước ngoài; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; người nước ngoài trước khi xuất cảnh từ Việt Nam. Đồng thời, quy định trình tự, thủ tục trong việc phối hợp tạm hoãn xuất cảnh giữa cơ quan thuế và cơ quan xuất nhập cảnh.
Ngân hàng cung cấp thông tin tài khoản của người nộp thuế
Về cung cấp thông tin, nghị định 126 quy định chi tiết ngân hàng thương mại có trách nhiệm cung cấp các thông tin về tài khoản của người nộp thuế cho Tổng cục Thuế bằng phương thức điện tử, đặc biệt là liên quan đến khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế cho nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú, nhưng có hoạt động kinh doanh thương mại điện tử, trên nền tảng số tại Việt Nam.
Quy định ngân hàng cung cấp thông tin về tài khoản thanh toán của người nộp thuế mở tại ngân hàng cho cơ quan quản lý thuế là nhằm phục vụ cho công tác quản lý thuế, đặc biệt là quản lý thuế thương mại điện tử.
Cụ thể, các thông tin cần được cung cấp bao gồm như, giao dịch qua tài khoản, số dư, số liệu giao dịch theo đề nghị của người đứng đầu cơ quan thuế. Việc này phục vụ cho mục đích thanh tra, kiểm tra xác định nghĩa vụ thuế phải nộp và thực hiện các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế theo quy định của pháp luật về thuế.
Khoanh nợ, xóa nợ thuế
Luật Quản lý thuế số 38 đã sửa đổi, bổ sung các trường hợp được khoanh tiền thuế nợ, xoá nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt. Theo đó NĐ 126 đã quy định cụ thể về thành phần hồ sơ, thời gian, trình tự thủ tục đối với từng trường hợp cụ thể. Đồng thời, khi xem xét khoanh nợ, thủ trưởng cơ quan thuế phải ban hành quyết định khoanh tiền thuế nợ đối với các trường hợp đủ điều kiện.
Ngoài ra, để đảm bảo xóa nợ đúng đối tượng, nghị định còn quy định cơ chế phối hợp giữa cơ quan thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh, chính quyền địa phương trong xoá nợ, hoàn trả cho Nhà nước khoản nợ đã được xóa trước khi cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, chứng nhận đăng ký DN. Theo đó, việc trao đổi thông tin về DN giữa cơ quan thuế và đăng ký kinh doanh được thực hiện bằng hình thức văn bản; trường hợp đủ điều kiện, thì trao đổi thông tin bằng phương thức điện tử.
Thuế tạm nộp 3 quý không thấp hơn 75% số thuế năm
Tại khoản 6, Điều 8, Nghị định số 126/2020 hướng dẫn thi hành Luật Quản lý thuế (gọi tắt NĐ 126) quy định “Tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp đã tạm nộp của 3 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp theo quyết toán năm.
Trường hợp người nộp thuế nộp thiếu so với số thuế phải tạm nộp 3 quý đầu năm thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế nộp thiếu kể từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp quý 3 đến ngày nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước”.
Với quy định “ngặt” như vậy, trường hợp doanh nghiệp nộp thuế thu nhập quý 1, 2, 3 thấp nhưng quý 4 tăng, đặc biệt tăng đột biến rất dễ dẫn đến tỷ lệ nộp thuế 3 quý đầu năm thấp hơn 75%, kéo theo là phải nộp tiền chậm nộp.
Một ví dụ minh chứng, quý 1 doanh nghiệp có thu nhập 100 tỉ đồng, thuế thu nhập doanh nghiệp tạm nộp 20 tỉ đồng; quý 2 có thu nhập 100 tỉ đồng, tạm nộp 20 tỉ đồng; quý 3 thu nhập 100 tỉ đồng, tạm nộp 20 tỉ đồng; thế nhưng qua quý 4 có thu nhập tăng lên 200 tỉ đồng, thuế tạm nộp 40 tỉ đồng. Cộng lại cả năm, thu nhập của doanh nghiệp là 500 tỉ đồng, có số thuế phải nộp là 100 tỉ đồng. Như vậy số thuế tạm nộp của 3 quý chỉ đạt 60/100 tỉ đồng, tương ứng 60%, tức thấp hơn quy định 75% số thuế phải nộp là 75 tỉ đồng. Nếu áp theo quy định trên, doanh nghiệp này phải đóng thêm tiền chậm nộp 679,5 triệu đồng (75 – 60 = 15 tỉ đồng; 15 tỉ đồng x 0,03%/ngày x 151 ngày).
Quy định này hết sức vô lý, trong khi 3 quý đầu năm doanh nghiệp đã nộp đúng quy định của pháp luật thuế hiện hành, nhưng cuối năm nếu thu nhập quý 4 lớn hơn bình quân 3 quý đầu năm thì năm nào cũng bị tính tiền chậm nộp tiền thuế trong 5 tháng. Thông thường, thời điểm cuối năm các doanh nghiệp thường tăng tốc các hoạt động sản xuất kinh doanh, trong trường hợp thu nhập của doanh nghiệp tăng đột biến trong quý này sẽ càng khốn khổ với quy định trên. Chẳng hạn ví dụ trên, thu nhập của doanh nghiệp quý 4 mà tăng lên 500 tỉ đồng, số tiền chậm nộp sẽ lên đến 2,718 tỉ đồng. Như vậy, doanh nghiệp càng nỗ lực sản xuất kinh doanh vào thời điểm cuối năm, càng dễ dính vi phạm quy định này.
Tổng Cục Thuế giải thích về quy định tạm nộp thuế TNDN theo quy định mới tại nghị định 126 !

